Vì sao lại dễ mắc viêm đại tràng mãn tính

Vì sao lại dễ mắc viêm đại tràng mãn tính

Posted Posted by bientapvien in Kiến thức, Viêm đại tràng     Comments No Comments
Jan
9

Viêm đại tràng mạn tính là bệnh khá phổ biến thường xuất hiện ở độ tuổi trung niên và người cao tuổi, người mắc bệnh này thường có những cảm giác rất khó chịu như đau bụng, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy. Viêm đại tràng mạn tính được định nghĩa là quá trình viêm nhiễm gây tổn thương khu trú hoặc lan tỏa ở niêm mac đại tràng với các mức độ nặng nhẹ khác nhau.

1. Nguyên nhân viêm đại tràng mạn tính

Nguyên nhân chủ yếu gây ra chứng viêm đại tràng mãn tính là với bệnh nhân sau khi nhiễm khuẩn đường ruột cấp, thương hàn, lỵ trực khuẩn, lỵ amip và các nhiễm khuẩn khác gây tổn thương rồi để lại di chứng “sẹo” ở niêm mạc đại tràng, dị ứng, tự miễn dịch sau viêm đại tràng, loét không đặc hiệu, vì một lý do nào đó chưa rõ viêm niêm mạc đại tràng trở thành kháng nguyên nên cơ thể tạo ra kháng thể chống lại chính niêm mạc đại tràng.
 
Sau khi bị dính phải một trong các nguyên nhân trên thì sức đề kháng của niêm mạc đại tràng giảm xuống rõ rệt và đó là lý do toàn thân hoặc tại chỗ dẫn tới nuôi dưỡng niêm mạc đại tràng bị kém đi đôi với rối loạn vận động, tiết dịch, sức “chống đỡ bệnh” của niêm mạc giảm nên viêm loét xảy ra dẫn tới hình thành bệnh viêm đại tràng mạn tính.

Bệnh viêm đại tràng mạn tính là sự tổng hợp của nhiều loại bệnh, sự phối hợp của nhiều cơ chế, do vậy chỉ điều trị ổn định chứ chưa điều trị khỏi được hoàn toàn. Tổn thương viêm: thường thấy hình ảnh niêm mạc sung huyết, các mạch máu cương tụ thành từng đám, hoặc niêm mạc đại tràng bạc màu, mất độ láng bóng. Tăng tiết nhầy ở vùng niêm mạc bị tổn thương viêm, có thể thấy hình ảnh những chấm chảy máu rải rác ở niêm mạc đại tràng. Tổn thương loét: bệnh viêm đại tràng mạn thấy hình ảnh viêm thường kèm theo với các ổ loét có thể chỉ là vết xước hoặc trợt niêm mạc, có ổ loét thực sự sâu, bờ đều mềm mại, ở đáy có nhầy, mủ, máu…

2. Bệnh viêm đại tràng mãn tính rất dễ nhầm với bệnh khác

Bệnh viêm đại tràng mạn tính có nhiều biểu hiện giống với các bệnh như: rối loạn chức năng đại tràng có đau bụng, phân táo, lỏng, không có máu, xét nghiệm albumin hoà tan âm tính, soi và sinh thiết đại tràng không thấy tổn thương viêm, loét. Vì thế cần phân biệt rõ ràng chứng viêm đại tràng mạn tính với các bệnh khác.

Polýp đại tràng: Bệnh Polyp đại tràng gặp ở nam nhiều hơn ở nữ, trên 50 tuổi, thường không có triệu chứng, có thể tình cờ xét nghiệm phân thấy máu vi thể hoặc đại tiện ra máu, soi đại tràng thấy polýp.

Bệnh ung thư đại tràng, trực tràng: bệnh này gặp nhiều ở nam hơn ở nữ, tuổi ngoài 40, các bệnh đại tràng dễ dẫn tới ung thư là polýp loại lan toả, các polýp giả, viêm đại tràng xuất huyết, sau lỵ amip, vị trí ung thư thường gặp ở trực tràng, đại tràng xích ma, triệu chứng phụ thuộc vào khối u, đau bụng không khu trú rõ rệt, chán ăn, buồn nôn, xen kẽ táo bón hoặc đi lỏng, có máu trong phân.

Bệnh Lao hồi manh tràng: hội chứng nhiễm lao, rối loạn cơ năng ruột, đại tiện lỏng 2 – 3 lần/ngày, phân sền sệt, tình trạng đại tiện lỏng kéo dài, có khi đỡ có khi xen kẽ đại tiện táo. Đau bụng, vị trí đau không cố định, khi đau quanh rốn, khi đau hố chậu phải, biếng ăn, sôi bụng, bệnh nhân có sốt về chiều, gầy sút, đồng thời có dấu hiệu rối loạn tiêu hoá kéo dài.

3. Cách điều trị bệnh
 
Khi mắc viêm đại tràng mạn tính, ngòai chỉ định của bác sỹ, người bệnh cũng cần có một chế độ ăn phù hợp để điều trị bệnh:Chế độ ăn: nên ăn các chất dễ tiêu, giàu năng lượng, giảm các chất kích thích, không ăn thức ăn ôi thiu, các chất có nhiều xơ.Chế độ làm việc: làm việc và nghỉ ngơi hợp lý để tránh việc tái phát bệnh.
Điều trị triệu chứng:chống tiêu chảy, chống táo bón, giảm đau chống co thắt, thuốc an thần, tăng sức bền cho niêm mạc: vitamin B1,  vitamin C, xoa bóp hằng ngày trước khi ngủ hoặc sáng ngủ dậy nên xoa nắn dọc khung đại tràng, từ hố chậu phải sang trái, động tác nhẹ nhàng vừa xoa vừa day nhẹ. Nếu nhiễm khuẩn cần cho kháng sinh… Nếu viêm đại tràng do bệnh “tự miễn” thì dùng liệu pháp corticoid.